Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

thời sự-suy nghĩ

Địa ngục quá gần ta


Chuyện em gái Nguyễn Thị Bình bị hành hạ tra tấn và bắt làm việc như một nô lệ thời hiện đại trong suốt 13 năm trời đã xảy ra ngay tại một quận nội thành của Hà Nội - quận Thanh Xuân, và có lẽ đã diễn ra trước mắt không ít người. Có thể là hàng xóm, có thể là người có quan hệ làm ăn buôn bán với vợ chồng hàng phở này, trong suốt 13 năm có một đứa bé gái bị đánh đập tàn nhẫn hằng ngày ngay trước mắt họ, nhưng không ai dám nói gì, có hành động gì ngăn chặn sự dã man khó tưởng tượng ấy.
Cho tới khi có một, rồi hai người: bà Bình "bò" và chị Oanh, không chịu nổi khi phải nhìn cảnh "địa ngục trần gian" ngay trước mắt mình cứ thản nhiên tái diễn, đã đồng lòng cứu và bí mật đưa em Bình bỏ trốn. Tới khi đó, báo chí phát hiện và vào cuộc, còn mọi người thì thở phào ra:"Khủng khiếp quá!". Vâng, nhưng khủng khiếp nhất là khi một chuyện khủng khiếp như thế lại xảy ra như một chuyện "đời thường" suốt 13 năm trời ngay giữa thủ đô mà gần như không có ai thấy đó là chuyện khủng khiếp.
Chúng ta đang sống thời hiện đại, đang sống trong cơ chế thị trường với vô vàn quan hệ phức hợp và phức tạp, đúng thế, nhưng liệu cuộc sống bây giờ có khiến chúng ta chai mòn vô cảm trước nỗi đau của trẻ nhỏ, nỗi đau của người nghèo khổ đến thế không? Ở một xã hội thượng tôn pháp luật, những hành động lăng nhục đánh đập con người một cách dã man như vậy sẽ lập tức bị chính những người láng giềng, hàng xóm phát hiện, và họ sẽ lập tức báo tin cho cảnh sát. Nhưng ở ta, khi người ta "sợ" pháp luật thì ít mà sợ những kẻ vi phạm pháp luật thì nhiều hơn, và nhất là khi nếu có người dám đứng ra tố cáo những tội ác như của vợ chồng hàng phở nọ, thì sẽ có cơ quan cảnh sát đặc biệt nào đứng ra tiếp nhận và xử lý ngay những thông tin ấy? Đó mới là điều cần bàn. Vì một khi người dân không dám báo cáo những chuyện như thế với công an khu vực, với công an phường chẳng hạn, là do họ sợ "nhà hàng phở" kia vừa lắm tiền vừa ngoa ngoắt có thể sẽ "đổi trắng thay đen" và "tố ngược" gây tai họa cho họ, thì sao? Ai bảo vệ những người dân trung thực dám tố cáo cái xấu cái ác trong những hoàn cảnh như thế ? Khi địa ngục quá gần ta, ma vương tiểu quỷ cũng quá gần ta, mà sự che chở của pháp luật lại ở hơi xa hoặc còn mờ ảo, khi những người lương thiện và trung thực chưa thể liên kết thành một sức mạnh, thì chuyện em Bình bị hành hạ man rợ suốt 13 năm trời mới nghe thật khủng khiếp, nhưng nghĩ kỹ, lại là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Dù trong mỗi khu phố đều có "tổ dân phố" về hình thức là quản lý khá chặt chẽ, nhưng một khi những tổ chức chính quyền cơ sở như thế bị "quan liêu hóa" hay chỉ tồn tại trên hình thức, thì thật khó cho người dân lương thiện dựa vào đó để thể hiện có hiệu quả sự lương thiện, thái độ không chấp nhận cái xấu cái ác của mình.
Tôi còn nhớ, cách đây chưa lâu, ngay tại thị xã Quảng Ngãi của tôi cũng đã có trường hợp một người em cựu chiến binh bị bệnh tâm thần đã "được" gia đình người anh ruột "nhốt xà lim" theo đúng nghĩa đen trong suốt 10 năm. Điều lạ lùng là cả chính quyền, tổ chức cựu chiến binh hay đoàn thể mặt trận phường, khu phố tại địa phương đều không hay biết(?). Cho tới khi báo chí phát hiện ra. Nên tôi nghĩ, trường hợp em Nguyễn Thị Bình chính là hồi chuông cảnh báo không chỉ là sự vô cảm đang cư ngụ trong mỗi người chúng ta, mà còn cảnh báo về sự thiếu vắng tinh thần thượng tôn pháp luật trong cộng đồng, về sự bất lực do bị "quan liêu hóa", "xơ cứng hóa" của những tổ chức chính quyền và cơ quan bảo vệ pháp luật ở cơ sở. Khi người dân lãnh cảm trước cái xấu cái ác, khi sự bất công và bạo ngược dám hành xử một cách công khai, đây đó còn thách thức cả pháp luật, thì khi đó "địa ngục chỉ cách ta ba bước".


Tháng 11/2007, Thanh Thảo

tản mạn

Xông đất - nét đẹp văn hóa ngày
xuân
tản mạn

Hàng năm, khi ngoài Bắc hoa đào bắt đầu đỏ thắm và phương Nam hoa mai vàng xòe cánh rực rỡ thì tất cả mọi người từ thượng lưu quý tộc cho đến hạng nghèo hèn đều tạm thời gác lại chuyện gạo-tiền-cơm- áo đểû lo cho ba ngày tết. Tết là dịp mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, làm lễ tạ ơn tổ tiên, trời đất đã cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Gột bỏ những điều rủi ro trong năm cũ, cầu mong và đón nhận vạn sự tốt lành của năm mới. Người dân quê tôi quan niệm vào thời điểm trời đất giao hòa-lúc bắt đầu chuyển từ năm cũ sang năm mới nếu có hiện tượng gì xảy ra với mình thì cái đó nó sẽ ứng vận vào mình suốt cả năm. Vì vậy trong đêm trừ tịch càng gần đến thời khắc giao thừa mọi hoạt động , ăn nói cả trong suy nghĩ cũng được mọi người hết sức thận trọng, kẻo sơ suất điều gì thì sẽ gặp xui xẻo cả năm. Cũng vì thế người ta rất quan tâm đến những vị khách đầu tiên đến nhà mình, những người đến xông đất đầu năm. Người đó có thể sẽ mang đến sự may mắn hay rủi ro trong năm. Tôi nhớ ngày còn bé, từ đầu tháng Chạp ta là lũ trẻ con chúng tôi bắt đầu rạo rực chờ tết. Đến ngày 23 tháng Chạp sau khi tiễn Ông Táo về trời để báo cáo tình hình đời sống dân tình hạ giới trong năm là không khí chuẩn bị tếùt bắt đầu khắp đường làng ngõ xóm. Mẹ tôi lăng xăng lo làm bánh trái, hùn hạp thịt heo với bà con lối xóm... cha tôi cẩn thận vén lại gốc mấy khóm hoa vạn thọ, hoa cúc và bắt đầu phấp phỏng không biết năm nay ông tôiù đến nhà có sớm không. Ông tôi tuổi cao và đẹp lão như ông Thọ trong bức tranh Phước-Lộc-Thọ mà cha tôi mới mua treo trong nhà còn thơm mùi mực tàu. Thường ngay sau giao thừa là ông lần lượt đến từng nhà con cháu. Không chỉ có nhà tôi mà hầu như cả làng ai cũng mong ngày đầu năm được ông tôi đến nhà để năm mới được sức khỏe và may mắn. Mặc dù phải thức khuya để đón giao thừa nhưng anh em chúng tôi không đứa nào chịu đi ngủ, cùng háo hức chờ tiếng gậy lộc cộc của ông tôi để được nũng nịu sà vào lòng vuốt chòm râu bạc và nhận những chiếc phong bao xinh xinh với cái xoa đầu âu yếm và lời chúc mau lớn, học giỏi. Bây giờ chúng tôi đã lớn lập gia đình và đi làm xa nhà nhưng hàng năm vẵn về quê ăn tết . Ông tôi tuổi càng cao không còn khỏe để mang niềm vui đến cho con cháu trong ngày đầu năm nhưng tôi vẫn không quên tiếng gậy của ông gõ lộc cộc trên nền sân gạch sau phút giao thừa... Người Việt Nam ta thường có tục lệ sau giao thừa là mở cửa chọn hướng xuất hành. Tùy theo tuổi tác mà chọn đi các hướng Đông-Tây-Nam hay Bắc (ấy là nói ở vùng nông thôn đường sá rộng rãi chứ không như ở phố chật chội khó thực hiện hướng xuất hành). Có người kỹ tính còn phải chọn bước chân phải hay chân trái trước, tiếp đến là hái lộc đầu năm và xông đất. Người ta quan niệm xông đất là để đón nhận may mắn. Thường những người đến xông đất phải là ngẫu nhiên không được gia chủ dạm trước thì mới linh. Người ta muốn người đến xông đất nhà mình là người mau mắn, hợp tuổi với gia chủ , thành đạt về công danh hay trong làm ăn đêû mang tài lộc đến. Và phải là người vai vế ở trên, hoặc là vai vế xã hội, hoặc làtuổi tác, cùng lắm là đi ngang, tức là ngang hàng về tuổi tác hay vai vế chứ không có chuyện người vai vế thấp đến xông đất nhà kẻ trên. Ở quê tôi người đến xông đất còn phải mang đến tài, lộc để mừng Tân niên cho gia chủ, cầu chúc cho gia chủ trong năm mới gặp nhiều may mắn, thường mang theo một chút tiền nhỏ đêû mừng tuổi trẻ con, chí ít cũng là những lời chúc tốt đẹp. Những người gia cảnh khó khăn, đạo đức không tốt hay gia đình đang có chuyện buồn thì phải kiêng cữ trong những ngày tết, đặc biệt là không nên đi xông đất nhà người ta. Ngày nay đời sống xã hội càng phát triển thì cách thức xông đất đầu năm cũng "hiện đại" hơn. Ở vùng nông thôn người ta vẫn còn giữ tục đến thăm nhau trong ngày đầu năm nhưng thường là gia chủ dạm nhờ trước người đếùn xông đâùt nhà mình. Còn ở thị thành người ta có thể nhất điện thoại đến địa chỉ nào đó để chúc phúc đầu năm cũng được xem như xông đất. Tục xông đất đầu năm là một quan niệm hay, một nét đẹp văn hóa trong ngày đầu xuân nhưng nó cũng có nhiều phiền phức. Nếu gia đình nào đó trong năm gặp rủi ro thì đổ lỗi cho người xông đất, hoặc người đến xông đất năm đó gặp nhiều may mắn thì bị xem là lấy hết lộc của gia chủ, có không ít trường hợp xảy ra xích mích, mất tình nghĩa vì điều này. Vì vậy mà ngày nay người ta rất ngại khi được nhờ đến xông đất đầu năm. Thậm chí trong ngày Mồng Một tết người ta đến thăm nhau cũng rất trễ để ...mình không phải là người đến trước. Xông đất đầu năm là một nét văn hóa truyền thống của cư dân vùng nông nghiệp, nó thể hiện cái triết lý cộng đồng của dân tộc Việt Nam, mọi người sống quan tâm đến nhau, sống vì nhau, ngoài ra nó còn có ý nghĩa tâm linh, mọi người muốn mang đến cho nhau sự may mắn trong ngày đầu năm mới. Sau thời khắc giao thừa, bàn thờ gia tiên được trưng bày rực rỡ, hoa vạn thọ, hoa lay-ơn khoe sắc trên chiếc độc bình cổ, mâm ngũ quả đủ màu sắc, cỗ bánh bò, bánh thuẫn chất ngất bên cạnh cùng trang điêûm cho gian thờ sáng hẳn lên. Gia chủ mở rộng cánh của để đón năm mới. Trong mùi hương trầm thoang thoảng ấm cúng, người đến xông đất cùng gia chủ rót tách trà ngon, mời nhau chiếc bánh ngọt để giới thiêïu tài gia chánh của cô con gái, uống một ly rượu gạo để tận hưởng phong vị tết cổ truyền, rồi cùng hàn huyên chuyện làm ăn và cầu chúc những điều tốt đẹp cho một năm mới. Trí Thanh

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2008

Thơ

EM,

em,
của khát khao,
cuồng nhiệt
của run rẩy,
muộn phiền
nơi tình yêu đi qua
em,
của tình yêu
thác chảy
cuồn cuộn
đê mê
bùng cháy,
trái cấm một lần rơi vỡ
trên tay gã ăn mày.
em,
đường chiều bóng đổ
gác trọ buồn hiu,
phố nhỏ lên đèn.

Tháng 7/1997-Trí Thanh

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2008

thơ tình...tang





CHUYỆN TÌNH LÁ DIÊU BÔNG


Váy Đình Bảng buông
Chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống giạ
Chị bảo
đứa nào tìm được lá diêu bông
từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày
Em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá diêu bông
Mùa đông sau em tìm
thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị, Em tìm
thấy lá
chị cười xe chỉ ấm
trôn kim
Chị ba con em tìm
thấy lá
xoè tay phủ mặt
Chị không nhìn!
Từ thuở ấy em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
-Diêu bông hời!...
…ơi diêu bông.

( Hoàng Cầm-1959)



THÔI TA KHÔNG TÌM

Tìm làm chi nữa lá diêu bông,
Cái tình lúc có cũng như không
Dối tôi nàng bảo tìm chiếc lá,
Còn nàng thì... nhảy tót sang sông!

( Trí Thanh-1992)


ĐÃ TÌM THẤY LÁ DIÊU BÔNG

Chết mẹ đây rồi cái lá diêu bông,
Cái lá mu mơ cái lá mông mông
Một thời hào hùng anh đâm lút cán
Cái lá phập phù lành rách như không
Ơ hờ diêu bông nhặt ở hội trường
Làm thuốc cường dương chữa bệnh âm ương
Welcome! Lá diêu bông mát quá
Mỏng hơn lá lú, rắn hơn đồng…

( Thanh Thảo 1992)


THÔI TA CHẲNG THÈM

Thôi ta chẳng thèm tìm lá diêu bông
Cái lá vu vơ, cái lá phiêu bồng
Một thời ngu ngơ một thời trả giá
Cái lá phiêu bồng cái lá không không
Ta hái ven đường nụ hoa cứt lợn
Làm thuốc phong trần chữa bệnh nhân gian
Vĩnh biệt nhé lá diêu bông huyền tưởng
Em cầm che khuôn mặt bẽ bàng

( Bùi Minh Quốc-1992)

BẼ BÀNG

Bẽ bàng chi lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng em ơi
Để sông bên lở bên bồi
Sau luỹ tre để ngậm ngùi tiếng ru
Trời xanh không bởi mây mù
Hắt hiu ngọn gió chiều thu chạnh lòng
Em còn có nhớ anh không?
Người đi tìm lá diêu bông năm nào
Dối tôi em bảo qua cầu
Hiểu ra giờ đã bạc đầu trắng ta!

( Trần Trúc Tâm-1992)



SAO EM CHẬM LẤY CHỒNG

Sao em chậm lấy chồng!
Hay là chưa có lá diêu bông
Hay là cái tính em ngông ngông
Chẳng thằng nào dám tới!
-Em đã bốn mươi tuổi
Có còn trẻ chi đâu
Mà lọc lừa kén chọn.
Anh chỉ thích lá vông
Để gói nem ngày tết
Để nghủ cho ngon lành
Khi nấu canh hay luộc
-Không có lá diêu bông
Nhà em có cây vông
Bốn mươi năm còn khoẻ
Anh có ưng hay không?.

( Lương Trọng Minh-1992)

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2008

bút ký




sông ba đôi bờ


Nguồn gốc của các nền văn minh trên thế giới đều khởi phát từ các dòng sông. Phú Yên được thiên nhiên ban tặng cho dòng sông Ba mà vùng hạ lưu là nơi từng phát tích một nền văn minh phát triển khá rực rỡ. Nền văn minh của người Chăm-pa. Sông Ba được ghi vào trong bản đồ của Ptolemée-một sử địa gia Hy Lạp về thế kỷ thứ hai và mang tên Dairios*. Dọc sông Ba ngày nay còn phát hiện nhiều di tích, di vật thuộc văn hoá Chăm như phế tích Thành Hồ ( Hoà Định Đông), tháp Núi Bà ( Hoà Phong) và Tháp Nhạn-lâu nay được xem là biểu tượng của thành phố Tuy Hoà. Kết quả khảo cổ ban đầu phế tích Thành Hồ do Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Phú Yên tiến hành mới đây cho thấy nền văn minh này có niên đại từ thế kỷ V-VII. Nếu lấy mốc thời gian cuối thế kỷ II ( 192) là thời điểm thành lập nhà nước của tộc người Chăm và cuối thế kỷ XVI ( 1578) vùng đất này sáp nhập vào cộng đồng chung lãnh thổ dân tộc cho đến nay thì dòng chảy của lịch sử đã đi suốt chiều dài của hơn 18 thế kỷ và tạo nên diện mạo của vùng đất Phú Yên.
Sông Ba phát nguyên từ đỉnh núi Ngọc Rô cao trên 1500 mét thuộc tỉnh Kon Tum, vòng cung chảy xuống qua các tỉnh Gia Lai, Phú Yên rồi đổ ra cửa Đà Diễn, hoà nhập với biển Đông. Đoạn từ Mặt Hàn trở xuống gọi là Đà Rằng. Nhiều người đã ví sông Đà Rằng như một dải yếm lụa trang điểm cho sự duyên dáng của vùng châu thổ Tuy Hoà. Nhưng về mặt kinh tế, sông Ba-Đà Rằng có ý nghĩa vô cùng lớn. Với chiều dài trên 350 cây số từ thượng nguồn đổ về, sông Ba mang theo tinh lực của đại ngàn trùng điệp về bồi đắp cho sự màu mỡ của đồng bằng. Đôi bờ xuôi theo dòng chảy của sông là những làng mạc sầm uất. Con sông đã nuôi lớn tâm hồn biết bao thế hệ ở vùng đất mà từng được ca ngợi là xứ sở của cơm trước mặt, cá sau lưng. Là vùng của đất phú trời yên.
Không biết tại sao cứ mỗi lần xuôi ngược bên sông Ba là tôi lại nghĩ về chiến dịch đường 5. Có lẽ trong trận chiến này người thân của tôi, người thân của bạn bè tôi và nhiều người nữa đã ngã xuống. Có lẽ đây là trận chiến ác liệt nhất và có quy mô lớn nhất của quân và dân Phú Yên. Hay là trận chiến có ý nghĩa quan trọng trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, phá vỡ chiến lược co cụm, cố thủ duyên hải miền Trung của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Cũng có thể là do tất cả. Nhưng vì lẽ nào đi nữa thì chiến thắng đường 5 cũng là niềm tự hào của quân và dân Phú Yên, là một dấu son trong trang sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc mà mỗi người dân trên mảnh đất này đều không được quên. Sông Ba như tấm lòng người mẹ, lặng lẽ chứng kiến những thăng trầm dâu bể, xoa dịu nỗi đau chiến tranh và ghi nhận chiến tích hào hùng của mảnh đất và con người nơi đây.
Đã gần 30 năm kể từ thời điểm diễn ra trận chiến đưòng 5 nhưng đồng chí Chín Cao-người bí thư tỉnh uỷ năm xưa vẫn nhớ như in từng chi tiết của chiến trường này. Mùa xuân năm 1975 cục diện chiến trường có những chuyển biến có lợi cho ta. Bộ chính Trị nhận định có thể sẽ tổng tiến công giải phóng miền Nam trong năm 1975-1976. Phú Yên được chỉ đạo chuẩn bị chiến trường và giải phóng vùng đồng bằng của tỉnh. Vì vậy khi quân chủ lực tấn công Buôn Mê Thuộc ngày 10/3 thì lực lượng của tỉnh đánh hai huyện Tuy Hoà 1 và Tuy Hoà 2. Sau khi Buôn Mê Thuộc thất thủ, ngày 14/3 Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố bỏ Tây Nguyên rút về lập phòng tuyến cố thủ vùng đồng bằng duyên hải miền Trung chờ thời cơ tái chiến Tây Nguyên. Đây là cuộc rút quân có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược quân sự, vì vậy Thiệu cử tướng Trần Văn Cẩm ra Tuy Hoà chỉ huy cuộc rút lui chiến lược. Nhận định được ý đồ của địch, với mục tiêu là tiêu diệt và bắt gọn đội quân từ Tây Nguyên xuống, Bộ Tư lện Quân khu V của ta đưa sư đoàn 3 chốt chặn đường số 19 ( Quy Nhơn-Gia Lai) và sư đoàn 10 chốt chặn đường 21 (Ninh Hoà-Buôn Mê Thuộc). Đây là hai con đường chiến lược từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Nhưng để tạo yếu tố bất ngờ cho quân giải phóng, tướng Cẩm không thực hiện di chuyển quân theo hai con đường này mà đi theo đường số 7-là một con đường nhỏ. Sở Chỉ huy tiền phương của Phú Yên thấy rằng khó có khả năng địch di chuyển theo đưòng số 7 vì đường này rừng núi rất khó đi, không phát huy được sức mạnh cơ giới và vũ khí hiện đại nếu gặp quân giải phóng. Hơn nữa cứ điểm Núi Tranh tại xã Hoà Quang để kiểm soát đường 7 và yểm trợ cho quân Tây Nguyên đã bị ta tiêu diệt. Vì vậy khi quân Tây Nguyên di chuyển đến gần Củng Sơn thì rất lúng túng. Trong khi đó Sở Chỉ huy tiền phương của ta phát hiện địch dùng công binh và máy bay chở vật dụng bắt cầu phao qua sông Ba. Đồng thời chúng tăng cường lực lượng pháo từ Cầu Cháy lên cứ điểm Hòn Kén-xã Hoà Phong. Cùng lúc này bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nắm bắt được một bức điện của tướng Phú-Tư lệnh vùng II chiến thuật có nội dung:” Cử một Đống Đa ủng hộ, đi cùng một chim én nghiên cứu con rồng xanh để le lưỡi qua con rồng xanh”. Từ bức điện này ta càng nắm chắc hơn việc địch sẽ vượt sông Ba theo đường số 5 di chuyển về thị xã Tuy Hoà.
Tôi hỏi:-Thưa bác, vậy là ta không theo đúng lệnh của quân khu là chốt chặn đánh địch ở đường số 7?
- Theo lệnh của trên chứ? Vẫn bố trí lực lượng chốt giữ đưòng số 7 nhưng chủ yếu là tập trung ở đường 5 và đúng là địch đã di chuyển theo đường 5.
Tại nhà riêng ở số 513 đường Trần Hưng Đạo, thị xã Tuy Hoà, đại tá Trần Văn Mười-nguyên trưỏng ban tác chiến của tỉnh đội Phú Yên trong chiến dịch đường 5 cũng hào hứng kể về 7 ngày đêm ác liệt ở chiến trường đường 5. Đối với ông, 18 tuổi vào bộ đội, từng chỉ huy và tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ nhưng trận đường 5 là trận đánh lớn nhất và có nhiều ý nghĩa. Tôi hỏi ông:
-Với chiến dịch đường 5, lực lượng ta chỉ là bộ đội địa phương với số lượng ít hơn nhiều lần so với địch, lúc đó ta có tin chắc rằng sẽ thắng?
-Đó là điều đáng nói!
Đôi mắt của vị đại tá dạn dày trận mạc, từng lăn lộn khắp các chiến trường ở Phú Yên chợt nhìn về một nơi xã xôi nào đó. Ông phân tích: địch di chuyển chiến lược sau khi thất thủ ở Buôn Mê Thuộc là tâm lý đã dao động. Đã rút lui tức là thất bại. Mặc dù rút lui chiến lược nhưng chiến thuật không rõ ràng. Từ kế hoạch di chuyển theo đường 7 nhưng chuyển sang đường 5 chắc chắn địch sẽ không chủ động được trong việc đánh giá đối phương. Còn ta là người chủ động bố trí chiến trường, đánh giá đúng địch, chỉ huy linh hoạt và vận dụng chiến tranh nhân dân. Từ những yếu tố này nên ta tin tưỏng sẽ thắng địch.
Đêm 19/3 ta đã tiêu diệt hàng loạt các cứ điểm, quét sạch địch ở 5 xã là Hoà Thịnh, Hoà Đồng, Hoà Tân, Hoà Phong và Hoà Mỹ. Đánh lui các đợt phản kích của địch từ Tuy Hoà lên, từ Nha Trang ra để đón quân Tây Nguyên xuống. Ta đã làm chủ hơn 10 cây số của đường 5. Lúc này ngoài lực lượng tại chỗ, quân Tây Nguyên xuống đã vượt cầu phao sang đường 5 gồm 20.000 quân với 2000 xe quân sự cùng vũ khí, đạn dược của một đội quân chuyên nghiệp. Với sự tương quan lực lượng rất lớn nên ta không để các lực lượng địch gặp nhau mà chia cắt để tiêu diệt. Trận đánh mở màng cho chiến dịch đưòng 5 để tiêu diệt quân Tây Nguyên xuống là chiều ngày 19/3 khi địch cho 5 xe bọc thép từ Hòn Kén chạy xuống. Ta đã tiêu diệt cả 5 xe này buộc địch phải dừng cả đoàn quân và xe pháo. Thất bại đầu tiên khi đến đưòng 5 làm cho tướng Trần Văn Cẩm vô cùng hoảng sợ. Chúng không biết lực lượng nào tấn công. Tướng Cẩm thúc giục tỉnh trưởng Phú Yên Vũ Quốc Gia tăng cường phản kích từ nhiều hướng để mở đường máu cho quân Tây Nguyên rút xuống nhưng không thành công. Vì vậy từ cuộc di chuyển chiến lược đã trở thành cuộc tháo chạy của quân Tây Nguyên. Không di chuyển được bằng quân sự, địch dùng hơn 350 xe hon- da cải trang làm thường dân để tháo chạy. Mỗi xe hon-da chở 3 người kẹp theo súng hòng đánh lừa quân cách mạng nhưng ta đã phát hiện tiêu diệt và bắt sống hơn 420 tên. Trước tình hình này, tướng Phú-Tư lệnh vùng II chiến thuật đi máy bay thị sát chiến trường và tìm cách để tiêu diệt bộ phận chỉ huy chiến dịch của ta. Tướng Phú dùng điện đàm gọi cho sở chỉ huy của ta để định vị mục tiêu cho không quân ném bom.
Tướng Phú:
-A lô! Cho tôi gặp chỉ huy cao nhất của các ông!
Ông Mười:
-Ông có thể nói với tôi.
Tướng Phú:
-Các ông cần nhân đạo, để cho nhân dân đi về thị xã Tuy Hoà!.
Tắt máy.
Sau cuộc trao đổi ngắn này, mạng kỹ thuật vô tuyến của ta nghe được tướng Phú ra lệnh cho lực lượng không quân nguỵ:
- Cho chim én ỉa tại…!
-Ỉa lỏng hay đặc?
-Lỏng!
Ỉa “lỏng” là đánh bom xăng, còn “đặc” là bom công phá.
Sở chỉ huy của ta lập tức di chuyển khỏi vị trí cũ. Vừa lúc đó không quân địch oanh tạc băm nát cả núi Hương-nơi sở Chỉ huy chiến dịch đang đóng. Có một loạt bom xăng đã đánh trúng hầm của đồng chí Chín Cao nhưng đồng chí đã vừa kịp di chuyển sang nơi khác.
-Thật hú hồn! Hiện nay trên núi Hương vẫn còn dấu 3 hố bom xăng đó!- ông Mười lau mồ hôi trán nói.
Sau trận oanh tạc để tiêu diệt Bộ chỉ huy chiến dịch của ta nhưng không thành công, địch tiếp tục tìm mọi cách để tháo chạy. Ác liệt nhất là trong những ngày 21, 22, 23/3, địch huy động tất cả các lực lượng bộ binh, không quân, pháo binh…để mong mở được đường máu cho quân Tây Nguyên tháo chạy về thị xã Tuy Hoà. Trận địa đường 5 bị bom đạn cày tan hoang không còn một ngọn cây, cọng cỏ nhưng ta vẫn giữ vững trận địa để đánh địch. Đến ngày 24/4, quân chủ lực của ta theo đường 7 bám đuôi địch đánh xuống, cùng tiểu đoàn 96 đánh lên đã giải phóng Củng Sơn và vượt sông Ba đánh giải phóng huyện Phú Đức ngày 25/3 rồi đuổi địch theo đường 5. Địch cho cắt cầu phao để chặn đường quân chủ lực làm cho rất nhiều binh lính và xe cộ của chúng rơi xuống sông chết đuối. Lúc này đội hình quân Tây Nguyên tan tác thảm hại, mạnh ai nấy trốn chạy. Nhân dân các xã trong vùng nổi lên bắt tù binh giao cho quân cách mạng. Trong số tù binh này có cả đại tá Đồng là lữ đoàn trưởng thiết giáp của quân Thiệu. Chiến dịch đưòng 5 ta đã chiến thắng hoàn toàn.
Chiến thắng đường 5 là ta đã phá vỡ được chiến lược co cụm cố thủ tuyến duyên hải niền Trung, làm đảo lộn thế trận của Nguyễn Văn Thiệu và tạo ra lực rất lớn, để sau đó ta giải phóng thị xã Tuy Hoà rồi giải phóng toàn tỉnh Phú Yên vào ngày 1/4/1975. Rồi cùng với cả nước thực hiện thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30/4/1975.
Ngừng tiến súng, những người con chiến sĩ của quê hương trở về cây dựng cuộc sống mới từ trong đống đổ nát. Chiến công nào mà không gắn với những đau thương mất mác? Qua gần 30 năm khắc phục hậu quả chiến tranh, đau thương mất mác vẫn còn chưa xoá hết trong lòng mỗi con người nhưng các làng quê dọc sông Ba màu xanh đã trở lại. Đường số 5-Ác địa một thời nay được xây dựng to đẹp và trở thành con đường phát triển kinh tế, nối đồng bằng Tuy Hoà với huyện mới Sông Hinh rồi lên Đắc Lắc…Khu vực thuỷ điện Sông Hinh nằm trong trận địa đường 5 xưa. Nhà máy đưòng Đồng Bò là nơi ta chốt chặn, phục kích quân Tây Nguyên trên đường rút chạy. Vùng bãi lầy gần bến đò Tịnh Sơn là nơi địch bắt cầu phao cho quân Tây Nguyên từ đưòng số 7-Sơn Hoà sang đường số 5, nay đang được xây dựng công trình thuỷ điện Sông Ba Hạ. Sông Ba-“con rồng xanh”-như mật danh của không quân địch thời chiến tranh đang chuẩn bị hoá thân thành nguồn sáng và năng lượng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Các con đường số 5-nay là ĐT 645 và đường số 7-nay là Quốc lộ 25 ngày càng đóng vai trò huyết mạch trong mối quan hệ liên kết phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng. Phú Yên sẽ ngày càng khẳng định vai trò trong khu vực khi các con đường này được nâng cấp cùng với việc xây dựng tuyến đường sắt, đường ống dẫn dầu dọc theo lưu vực sông Ba, thành tuyến giao thông giữa Phú Yên với Tây Nguyên và xuyên quốc gia, tạo nên một hành lang kinh tế lớn giữa các nước khu vực Đông Nam Á như Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan…
Sóng gió đã đi qua. Sông Ba ngày nay như mặt gương soi bóng những làng quê trù phú. Sông vẫn cần cù cái dòng chảy ngàn đời để bồi đắp cho châu thổ. Một tiếng cá quẫy trong chạng vạng chiều hôm làm nao nao mặt sóng. Tôi bỗng nhớ bài thơ “Những dòng sông” của nhà thơ Bế Kiến Quốc. Những câu thơ về một dân tộc anh hùng của một thời đại anh hùng:
"...Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng
Tất cả trả lời sinh bên một dòng sông!"
Các nền văn minh của nhân loại đều khởi nguồn từ những dòng sông. Những người anh hùng được sinh ra bên các dòng sông và Phú Yên có một dòng sông Ba.

Tuy Hoà, tháng 4/2005- Trí Thanh


* Theo “ Non nước Phú Yên” của Nguyễn Đình Tư-NXB Thanh Niên 2004

bút ký


MUỐI ƠI!...


Lại một năm nữa dân làm muối ở Tuyết Diêm-huyện Sông Cầu phải gặp cảnh lao đao. Cái nghề đầy khổ nhọc để chắt chiu tinh túy của trời đất đem vị mặn cho đời mà thường phải nhận lấy sự bạc bẽo của nó. Làng muối lại có thêm nhiều người bỏ nghề. Ông Nguyễn Kim Phụng - diêm dân của Tuyết Diêm mặt buồn rười rượi nói: " Giá muối liên tục rớt từ 350 đồng xuống 300 đồng, rồi còn 200 đồng một ký. Lỗ nặng!".
Hai tiếng "Lỗ nặng" của ông
Phụng nghe nặng trịch như một dấu chấm hết. Nó khái quát kết cục của những vụ muối thất bát và giá muối không ra gì. Nó như cũng dự báo một quyết định nào đó của ông đối với nghề. Liệu một người sinh ra trên đồng
muối, hơn 50 năm gắn bó với muối như ông có tính bỏ nghề?
Muối Tuyết Diêm từ xưa nổi tiếng là tốt về chất lượng. Hạt muối trắng và chắc, không thua kém muối của các nơi khác như Sa Huỳnh, Hòn Khoí hay muối Mũi Né nên được người tiêu dùng trong khu vực ưa chuộng. Nhưng do sản xuất theo lối thủ công năng suất thấp, giá thành cao hơn những chỗ khác mà muối khó bán. Sản lượng toàn vùng chỉ khoảng 12 ngàn tấn mỗi năm mà dù bán đổ bán tháo cũng còn tồn từ 6 -7 ngàn tấn. Bởi vậy mà diêm dân cứ hớt hải lo tìm nguồn tiêu thụ, ngay ngáy lo đến hạn trả nợ ngân hàng và cuống cuồng lo chạy cái ăn hàng ngày. Những thông tin về dự án nâng cấp, cải tạo đồng muối giai đoạn 2002 - 2010 của UBND tỉnh Phú Yên, dự án xây dựng nhà máy muối Iốt đã được duyệt, dự án về nhà máy tiêu thụ muối sạch 15 ngàn tấn/ năm mà Công ty muối 3 của Đà Nẵng sẽ đầu tư....không ai buồn quan tâm. Họ có lý. Tương lai tốt đẹp cho nghề muối Tuyết Diêm có lẽ còn hơi xa mà họ thì phải lo cho những khó khăn của thực tại.

Những năm gần đây nhiều vùng muối ở nước ta đã dần thay đổi phương pháp làm muối truyền thống, biết áp dụng khoa học kỹ thuật nên có những bước tiến đáng kể về quy mô cũng như năng suất và chất lượng. Nhiều nơi muối được sản xuất theo hướng công nghiệp, sản lượng cao mà chi phí thấp nên dù giá hạ vẫn không sợ bị lỗ. Sản phẩm làm ra không chỉ là mấy món muối tươi, muối hầm mà còn được chế biến thành nhiều sản phẩm đa dạng như muối ớt, bột canh, muối Iốt... hấp dẫn và tiện lợi cho người tiêu dùng. Đời sống càng phát triển thì người tiêu dùng cũng trở nên khó tính - khó tính cả với .... muối! Hạt muối ăn không chỉ là mặn, mà còn phải có hương vị và đẹp về bao bì, mẫu mã. Muối không bị lẫn lộn cát, vỏ sò và tạp chất. Vì vậy đòi hỏi nghề muối phải đầu tư công nghệ để gia công cho sản phẩm mới đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng. Vùng muối Tuyết Diêm khó khăn về vốn, làm ăn nhỏ lẻ và không nắm bắt kịp với thị hiếu người tiêu dùng nên phải chấp nhận "tụt hậu" và thua lỗ.

Xưa nay người ta cứ tưởng rằng nghề làm muối là dễ có ăn. Chỉ phơi nước đại dương là có tiền. Dân làm muối thì không nghĩ như thế. Khi bước vào mỗi vụ người làm muối phải đắp lại bờ vùng, bờ thửa, làm kênh dẫn nước. Riêng công đoạn làm mặt bằng cho đồng muối phải mất ròng rã từ 12 đến 15 ngày gọi là "làm da". Sau khi cày lên và phân lô, diêm dân mỗi ngày phải dùng đầm đập hai lượt cho đến khi mặt sân thật phẳng, thật cứng như bê - tông. Hạt muối có trắng, có sạch, không bị lẫn lộn đất cát là ở khâu "làm da" này. Đây cũng là khâu nặng nhất trong cả quy trình làm muối. Vì vậy đến bây giờ ở Tuyết Diêm vẫn còn lưu truyền câu ca: "Năm đồng một lát cá thu. Lấy chồng xứ Nại chổng khu đập bờ". Xứ Nại là tên gọi xưa của vùng muối Tuyết Diêm. Ngay cái tên gọi cũng gợi lên sự lam lũ và nỗi niềm của nghề làm muối. Con gái muốn trắng da, dài tóc đừng về làm dâu xứ Nại. Để rồi phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Để rồi đỏ tóc đen da, chân trần nứt nẻ. Ấy là nói ngày xưa chứ bây giờ không đến nỗi."Bảo hiểm" cho người thợ trên đồng muối đã được trang bị từ đâù đến chân. Chỉ có cái khổ nhọc là vẫn thế!

Quá trình giọt nước "hóa thân" thành muối cũng phải trải qua nhiều giai đoạn theo sự đạo diễn của con người. Trước tiên phải dẫn nước vào một hồ chứa gọi là hồ "chưá lạt", sau đó đưa vào hồ chứa thứ hai gọi là hồ "chứa châm cào". Chưa xong, từ hồ "chứa châm cào" dòng nước còn phải qua hồ chứa chịu " một", hồ chứa chịu "hai" mới được đưa vào ruộng để phơi thành muối. Quy trình này mất khoảng năm ngày. Mỗi công đoạn đòi hỏi người làm muối phải cẩn thận theo dõi thời tiết, độ mặn các hồ. Nếu sơ suất một khâu nào thì mẻ muối trong năm ngày đó coi như "xôi hỏng bỏng không". Muối không đủ độ chín sẽ không chắc hạt và dễ bị chảy nước. Một vụ muối bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng chín âm lịch. Đây là thời gian nhiều nắng và gió. Người làm muối phải lao động cật lực trong suốt mùa nắng, gió ấy. Mỗi hạt muối vì vậy nó chứa đựng bao nhiêu là mồ hôi, công sức, bao sự cực nhọc, tảo tần của người thợ trên đồng. Thế nhưng có một cái quy luật thật nghiệt ngã với dân làm muối. Đó là năm nào thời tiết tốt, muối được mùa thì giá lại rẻ như ... muối! Khi mất mùa giá mới cao. Giá cao mà không có muối để bán. Vậy thì cũng bằng không. Xưa nay mấy ai làm muối mà giàu! Ông Sáu Thơm hiện là người làm muối cao tuổi nhất ở Tuyết Diêm. Nhà ông làm muối đã ba đời. Từ thuở Tuyết Diêm còn là vùng rừng ngập mặn đầy cây đước, cây bần. Ở tuổi 80 ông vẫn còn chắc nịch và bền bỉ, có thể cùng con cháu cầm trang cào "tung hoành" suốt cả ngày trên đồng muối. Ông đã một đời gắn bó với muối, nếm trải đủ vị mặn của muối lẫn cái mặn của mồ hôi, đến giờ cũng chưa hết trăn trở vì muối. Ông cất cái giọng trầm đục và mặn như ... muối: "Cái mà tôi buồn nhất là con cháu bây giờ cứ rần rần đòi bỏ nghề muối. Nhiều đứa đã đi Sài Gòn làm mướn rồi!". Nỗi lòng của một diêm dân già! Liệu điều đó có đủ thuyết phục lớp trẻ khi chúng đã chán cái nghề "phơi nước" đầy khổ nhọc và luôn bị thôi thúc tìm cơ hội để vượt qua sự nghèo khó?

Ông Sáu bỏ về từ lâu mà tôi vẫn còn ngẩn ngơ giữa mênh mông đồng muối. Buổi trưa nóng hầm hập và trắng đến nhức mắt. Tôi bị hơi mặn của muối ép đầy buồng phổi, làm môi miệng chát đắng. Hóa ra cái chất khoáng rất cần cho sự sống mà ta vẫn nếm hằng ngày lại không dễ chịu chút nào khi nó trở nên quá dư thừa. Bất giác tôi nhớ câu chuyện của người thương binh già ở làng muối kể về những ngày hoạt động trên rừng nhiều lúc phải ăn tro tranh thay muối. Đôi khi hạt muối còn nhuộm cả máu của cán bộ tiếp tế từ đồng bằng lên bị địch phục kích. Mỗi hạt muối quý hơn cả vàng. Ấy vậy mà bây giờ ...
tháng 6/2003-Trí Thanh
* Ảnh trên: Diêm dân Tuyết Diêm trên đồng muối. ( Kim Long)