Thứ Tư, 9 tháng 7, 2008

thơ tình...tang





CHUYỆN TÌNH LÁ DIÊU BÔNG


Váy Đình Bảng buông
Chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống giạ
Chị bảo
đứa nào tìm được lá diêu bông
từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày
Em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá diêu bông
Mùa đông sau em tìm
thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị, Em tìm
thấy lá
chị cười xe chỉ ấm
trôn kim
Chị ba con em tìm
thấy lá
xoè tay phủ mặt
Chị không nhìn!
Từ thuở ấy em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
-Diêu bông hời!...
…ơi diêu bông.

( Hoàng Cầm-1959)



THÔI TA KHÔNG TÌM

Tìm làm chi nữa lá diêu bông,
Cái tình lúc có cũng như không
Dối tôi nàng bảo tìm chiếc lá,
Còn nàng thì... nhảy tót sang sông!

( Trí Thanh-1992)


ĐÃ TÌM THẤY LÁ DIÊU BÔNG

Chết mẹ đây rồi cái lá diêu bông,
Cái lá mu mơ cái lá mông mông
Một thời hào hùng anh đâm lút cán
Cái lá phập phù lành rách như không
Ơ hờ diêu bông nhặt ở hội trường
Làm thuốc cường dương chữa bệnh âm ương
Welcome! Lá diêu bông mát quá
Mỏng hơn lá lú, rắn hơn đồng…

( Thanh Thảo 1992)


THÔI TA CHẲNG THÈM

Thôi ta chẳng thèm tìm lá diêu bông
Cái lá vu vơ, cái lá phiêu bồng
Một thời ngu ngơ một thời trả giá
Cái lá phiêu bồng cái lá không không
Ta hái ven đường nụ hoa cứt lợn
Làm thuốc phong trần chữa bệnh nhân gian
Vĩnh biệt nhé lá diêu bông huyền tưởng
Em cầm che khuôn mặt bẽ bàng

( Bùi Minh Quốc-1992)

BẼ BÀNG

Bẽ bàng chi lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng em ơi
Để sông bên lở bên bồi
Sau luỹ tre để ngậm ngùi tiếng ru
Trời xanh không bởi mây mù
Hắt hiu ngọn gió chiều thu chạnh lòng
Em còn có nhớ anh không?
Người đi tìm lá diêu bông năm nào
Dối tôi em bảo qua cầu
Hiểu ra giờ đã bạc đầu trắng ta!

( Trần Trúc Tâm-1992)



SAO EM CHẬM LẤY CHỒNG

Sao em chậm lấy chồng!
Hay là chưa có lá diêu bông
Hay là cái tính em ngông ngông
Chẳng thằng nào dám tới!
-Em đã bốn mươi tuổi
Có còn trẻ chi đâu
Mà lọc lừa kén chọn.
Anh chỉ thích lá vông
Để gói nem ngày tết
Để nghủ cho ngon lành
Khi nấu canh hay luộc
-Không có lá diêu bông
Nhà em có cây vông
Bốn mươi năm còn khoẻ
Anh có ưng hay không?.

( Lương Trọng Minh-1992)

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2008

bút ký




sông ba đôi bờ


Nguồn gốc của các nền văn minh trên thế giới đều khởi phát từ các dòng sông. Phú Yên được thiên nhiên ban tặng cho dòng sông Ba mà vùng hạ lưu là nơi từng phát tích một nền văn minh phát triển khá rực rỡ. Nền văn minh của người Chăm-pa. Sông Ba được ghi vào trong bản đồ của Ptolemée-một sử địa gia Hy Lạp về thế kỷ thứ hai và mang tên Dairios*. Dọc sông Ba ngày nay còn phát hiện nhiều di tích, di vật thuộc văn hoá Chăm như phế tích Thành Hồ ( Hoà Định Đông), tháp Núi Bà ( Hoà Phong) và Tháp Nhạn-lâu nay được xem là biểu tượng của thành phố Tuy Hoà. Kết quả khảo cổ ban đầu phế tích Thành Hồ do Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Phú Yên tiến hành mới đây cho thấy nền văn minh này có niên đại từ thế kỷ V-VII. Nếu lấy mốc thời gian cuối thế kỷ II ( 192) là thời điểm thành lập nhà nước của tộc người Chăm và cuối thế kỷ XVI ( 1578) vùng đất này sáp nhập vào cộng đồng chung lãnh thổ dân tộc cho đến nay thì dòng chảy của lịch sử đã đi suốt chiều dài của hơn 18 thế kỷ và tạo nên diện mạo của vùng đất Phú Yên.
Sông Ba phát nguyên từ đỉnh núi Ngọc Rô cao trên 1500 mét thuộc tỉnh Kon Tum, vòng cung chảy xuống qua các tỉnh Gia Lai, Phú Yên rồi đổ ra cửa Đà Diễn, hoà nhập với biển Đông. Đoạn từ Mặt Hàn trở xuống gọi là Đà Rằng. Nhiều người đã ví sông Đà Rằng như một dải yếm lụa trang điểm cho sự duyên dáng của vùng châu thổ Tuy Hoà. Nhưng về mặt kinh tế, sông Ba-Đà Rằng có ý nghĩa vô cùng lớn. Với chiều dài trên 350 cây số từ thượng nguồn đổ về, sông Ba mang theo tinh lực của đại ngàn trùng điệp về bồi đắp cho sự màu mỡ của đồng bằng. Đôi bờ xuôi theo dòng chảy của sông là những làng mạc sầm uất. Con sông đã nuôi lớn tâm hồn biết bao thế hệ ở vùng đất mà từng được ca ngợi là xứ sở của cơm trước mặt, cá sau lưng. Là vùng của đất phú trời yên.
Không biết tại sao cứ mỗi lần xuôi ngược bên sông Ba là tôi lại nghĩ về chiến dịch đường 5. Có lẽ trong trận chiến này người thân của tôi, người thân của bạn bè tôi và nhiều người nữa đã ngã xuống. Có lẽ đây là trận chiến ác liệt nhất và có quy mô lớn nhất của quân và dân Phú Yên. Hay là trận chiến có ý nghĩa quan trọng trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, phá vỡ chiến lược co cụm, cố thủ duyên hải miền Trung của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Cũng có thể là do tất cả. Nhưng vì lẽ nào đi nữa thì chiến thắng đường 5 cũng là niềm tự hào của quân và dân Phú Yên, là một dấu son trong trang sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc mà mỗi người dân trên mảnh đất này đều không được quên. Sông Ba như tấm lòng người mẹ, lặng lẽ chứng kiến những thăng trầm dâu bể, xoa dịu nỗi đau chiến tranh và ghi nhận chiến tích hào hùng của mảnh đất và con người nơi đây.
Đã gần 30 năm kể từ thời điểm diễn ra trận chiến đưòng 5 nhưng đồng chí Chín Cao-người bí thư tỉnh uỷ năm xưa vẫn nhớ như in từng chi tiết của chiến trường này. Mùa xuân năm 1975 cục diện chiến trường có những chuyển biến có lợi cho ta. Bộ chính Trị nhận định có thể sẽ tổng tiến công giải phóng miền Nam trong năm 1975-1976. Phú Yên được chỉ đạo chuẩn bị chiến trường và giải phóng vùng đồng bằng của tỉnh. Vì vậy khi quân chủ lực tấn công Buôn Mê Thuộc ngày 10/3 thì lực lượng của tỉnh đánh hai huyện Tuy Hoà 1 và Tuy Hoà 2. Sau khi Buôn Mê Thuộc thất thủ, ngày 14/3 Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố bỏ Tây Nguyên rút về lập phòng tuyến cố thủ vùng đồng bằng duyên hải miền Trung chờ thời cơ tái chiến Tây Nguyên. Đây là cuộc rút quân có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược quân sự, vì vậy Thiệu cử tướng Trần Văn Cẩm ra Tuy Hoà chỉ huy cuộc rút lui chiến lược. Nhận định được ý đồ của địch, với mục tiêu là tiêu diệt và bắt gọn đội quân từ Tây Nguyên xuống, Bộ Tư lện Quân khu V của ta đưa sư đoàn 3 chốt chặn đường số 19 ( Quy Nhơn-Gia Lai) và sư đoàn 10 chốt chặn đường 21 (Ninh Hoà-Buôn Mê Thuộc). Đây là hai con đường chiến lược từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Nhưng để tạo yếu tố bất ngờ cho quân giải phóng, tướng Cẩm không thực hiện di chuyển quân theo hai con đường này mà đi theo đường số 7-là một con đường nhỏ. Sở Chỉ huy tiền phương của Phú Yên thấy rằng khó có khả năng địch di chuyển theo đưòng số 7 vì đường này rừng núi rất khó đi, không phát huy được sức mạnh cơ giới và vũ khí hiện đại nếu gặp quân giải phóng. Hơn nữa cứ điểm Núi Tranh tại xã Hoà Quang để kiểm soát đường 7 và yểm trợ cho quân Tây Nguyên đã bị ta tiêu diệt. Vì vậy khi quân Tây Nguyên di chuyển đến gần Củng Sơn thì rất lúng túng. Trong khi đó Sở Chỉ huy tiền phương của ta phát hiện địch dùng công binh và máy bay chở vật dụng bắt cầu phao qua sông Ba. Đồng thời chúng tăng cường lực lượng pháo từ Cầu Cháy lên cứ điểm Hòn Kén-xã Hoà Phong. Cùng lúc này bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nắm bắt được một bức điện của tướng Phú-Tư lệnh vùng II chiến thuật có nội dung:” Cử một Đống Đa ủng hộ, đi cùng một chim én nghiên cứu con rồng xanh để le lưỡi qua con rồng xanh”. Từ bức điện này ta càng nắm chắc hơn việc địch sẽ vượt sông Ba theo đường số 5 di chuyển về thị xã Tuy Hoà.
Tôi hỏi:-Thưa bác, vậy là ta không theo đúng lệnh của quân khu là chốt chặn đánh địch ở đường số 7?
- Theo lệnh của trên chứ? Vẫn bố trí lực lượng chốt giữ đưòng số 7 nhưng chủ yếu là tập trung ở đường 5 và đúng là địch đã di chuyển theo đường 5.
Tại nhà riêng ở số 513 đường Trần Hưng Đạo, thị xã Tuy Hoà, đại tá Trần Văn Mười-nguyên trưỏng ban tác chiến của tỉnh đội Phú Yên trong chiến dịch đường 5 cũng hào hứng kể về 7 ngày đêm ác liệt ở chiến trường đường 5. Đối với ông, 18 tuổi vào bộ đội, từng chỉ huy và tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ nhưng trận đường 5 là trận đánh lớn nhất và có nhiều ý nghĩa. Tôi hỏi ông:
-Với chiến dịch đường 5, lực lượng ta chỉ là bộ đội địa phương với số lượng ít hơn nhiều lần so với địch, lúc đó ta có tin chắc rằng sẽ thắng?
-Đó là điều đáng nói!
Đôi mắt của vị đại tá dạn dày trận mạc, từng lăn lộn khắp các chiến trường ở Phú Yên chợt nhìn về một nơi xã xôi nào đó. Ông phân tích: địch di chuyển chiến lược sau khi thất thủ ở Buôn Mê Thuộc là tâm lý đã dao động. Đã rút lui tức là thất bại. Mặc dù rút lui chiến lược nhưng chiến thuật không rõ ràng. Từ kế hoạch di chuyển theo đường 7 nhưng chuyển sang đường 5 chắc chắn địch sẽ không chủ động được trong việc đánh giá đối phương. Còn ta là người chủ động bố trí chiến trường, đánh giá đúng địch, chỉ huy linh hoạt và vận dụng chiến tranh nhân dân. Từ những yếu tố này nên ta tin tưỏng sẽ thắng địch.
Đêm 19/3 ta đã tiêu diệt hàng loạt các cứ điểm, quét sạch địch ở 5 xã là Hoà Thịnh, Hoà Đồng, Hoà Tân, Hoà Phong và Hoà Mỹ. Đánh lui các đợt phản kích của địch từ Tuy Hoà lên, từ Nha Trang ra để đón quân Tây Nguyên xuống. Ta đã làm chủ hơn 10 cây số của đường 5. Lúc này ngoài lực lượng tại chỗ, quân Tây Nguyên xuống đã vượt cầu phao sang đường 5 gồm 20.000 quân với 2000 xe quân sự cùng vũ khí, đạn dược của một đội quân chuyên nghiệp. Với sự tương quan lực lượng rất lớn nên ta không để các lực lượng địch gặp nhau mà chia cắt để tiêu diệt. Trận đánh mở màng cho chiến dịch đưòng 5 để tiêu diệt quân Tây Nguyên xuống là chiều ngày 19/3 khi địch cho 5 xe bọc thép từ Hòn Kén chạy xuống. Ta đã tiêu diệt cả 5 xe này buộc địch phải dừng cả đoàn quân và xe pháo. Thất bại đầu tiên khi đến đưòng 5 làm cho tướng Trần Văn Cẩm vô cùng hoảng sợ. Chúng không biết lực lượng nào tấn công. Tướng Cẩm thúc giục tỉnh trưởng Phú Yên Vũ Quốc Gia tăng cường phản kích từ nhiều hướng để mở đường máu cho quân Tây Nguyên rút xuống nhưng không thành công. Vì vậy từ cuộc di chuyển chiến lược đã trở thành cuộc tháo chạy của quân Tây Nguyên. Không di chuyển được bằng quân sự, địch dùng hơn 350 xe hon- da cải trang làm thường dân để tháo chạy. Mỗi xe hon-da chở 3 người kẹp theo súng hòng đánh lừa quân cách mạng nhưng ta đã phát hiện tiêu diệt và bắt sống hơn 420 tên. Trước tình hình này, tướng Phú-Tư lệnh vùng II chiến thuật đi máy bay thị sát chiến trường và tìm cách để tiêu diệt bộ phận chỉ huy chiến dịch của ta. Tướng Phú dùng điện đàm gọi cho sở chỉ huy của ta để định vị mục tiêu cho không quân ném bom.
Tướng Phú:
-A lô! Cho tôi gặp chỉ huy cao nhất của các ông!
Ông Mười:
-Ông có thể nói với tôi.
Tướng Phú:
-Các ông cần nhân đạo, để cho nhân dân đi về thị xã Tuy Hoà!.
Tắt máy.
Sau cuộc trao đổi ngắn này, mạng kỹ thuật vô tuyến của ta nghe được tướng Phú ra lệnh cho lực lượng không quân nguỵ:
- Cho chim én ỉa tại…!
-Ỉa lỏng hay đặc?
-Lỏng!
Ỉa “lỏng” là đánh bom xăng, còn “đặc” là bom công phá.
Sở chỉ huy của ta lập tức di chuyển khỏi vị trí cũ. Vừa lúc đó không quân địch oanh tạc băm nát cả núi Hương-nơi sở Chỉ huy chiến dịch đang đóng. Có một loạt bom xăng đã đánh trúng hầm của đồng chí Chín Cao nhưng đồng chí đã vừa kịp di chuyển sang nơi khác.
-Thật hú hồn! Hiện nay trên núi Hương vẫn còn dấu 3 hố bom xăng đó!- ông Mười lau mồ hôi trán nói.
Sau trận oanh tạc để tiêu diệt Bộ chỉ huy chiến dịch của ta nhưng không thành công, địch tiếp tục tìm mọi cách để tháo chạy. Ác liệt nhất là trong những ngày 21, 22, 23/3, địch huy động tất cả các lực lượng bộ binh, không quân, pháo binh…để mong mở được đường máu cho quân Tây Nguyên tháo chạy về thị xã Tuy Hoà. Trận địa đường 5 bị bom đạn cày tan hoang không còn một ngọn cây, cọng cỏ nhưng ta vẫn giữ vững trận địa để đánh địch. Đến ngày 24/4, quân chủ lực của ta theo đường 7 bám đuôi địch đánh xuống, cùng tiểu đoàn 96 đánh lên đã giải phóng Củng Sơn và vượt sông Ba đánh giải phóng huyện Phú Đức ngày 25/3 rồi đuổi địch theo đường 5. Địch cho cắt cầu phao để chặn đường quân chủ lực làm cho rất nhiều binh lính và xe cộ của chúng rơi xuống sông chết đuối. Lúc này đội hình quân Tây Nguyên tan tác thảm hại, mạnh ai nấy trốn chạy. Nhân dân các xã trong vùng nổi lên bắt tù binh giao cho quân cách mạng. Trong số tù binh này có cả đại tá Đồng là lữ đoàn trưởng thiết giáp của quân Thiệu. Chiến dịch đưòng 5 ta đã chiến thắng hoàn toàn.
Chiến thắng đường 5 là ta đã phá vỡ được chiến lược co cụm cố thủ tuyến duyên hải niền Trung, làm đảo lộn thế trận của Nguyễn Văn Thiệu và tạo ra lực rất lớn, để sau đó ta giải phóng thị xã Tuy Hoà rồi giải phóng toàn tỉnh Phú Yên vào ngày 1/4/1975. Rồi cùng với cả nước thực hiện thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30/4/1975.
Ngừng tiến súng, những người con chiến sĩ của quê hương trở về cây dựng cuộc sống mới từ trong đống đổ nát. Chiến công nào mà không gắn với những đau thương mất mác? Qua gần 30 năm khắc phục hậu quả chiến tranh, đau thương mất mác vẫn còn chưa xoá hết trong lòng mỗi con người nhưng các làng quê dọc sông Ba màu xanh đã trở lại. Đường số 5-Ác địa một thời nay được xây dựng to đẹp và trở thành con đường phát triển kinh tế, nối đồng bằng Tuy Hoà với huyện mới Sông Hinh rồi lên Đắc Lắc…Khu vực thuỷ điện Sông Hinh nằm trong trận địa đường 5 xưa. Nhà máy đưòng Đồng Bò là nơi ta chốt chặn, phục kích quân Tây Nguyên trên đường rút chạy. Vùng bãi lầy gần bến đò Tịnh Sơn là nơi địch bắt cầu phao cho quân Tây Nguyên từ đưòng số 7-Sơn Hoà sang đường số 5, nay đang được xây dựng công trình thuỷ điện Sông Ba Hạ. Sông Ba-“con rồng xanh”-như mật danh của không quân địch thời chiến tranh đang chuẩn bị hoá thân thành nguồn sáng và năng lượng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Các con đường số 5-nay là ĐT 645 và đường số 7-nay là Quốc lộ 25 ngày càng đóng vai trò huyết mạch trong mối quan hệ liên kết phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng. Phú Yên sẽ ngày càng khẳng định vai trò trong khu vực khi các con đường này được nâng cấp cùng với việc xây dựng tuyến đường sắt, đường ống dẫn dầu dọc theo lưu vực sông Ba, thành tuyến giao thông giữa Phú Yên với Tây Nguyên và xuyên quốc gia, tạo nên một hành lang kinh tế lớn giữa các nước khu vực Đông Nam Á như Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan…
Sóng gió đã đi qua. Sông Ba ngày nay như mặt gương soi bóng những làng quê trù phú. Sông vẫn cần cù cái dòng chảy ngàn đời để bồi đắp cho châu thổ. Một tiếng cá quẫy trong chạng vạng chiều hôm làm nao nao mặt sóng. Tôi bỗng nhớ bài thơ “Những dòng sông” của nhà thơ Bế Kiến Quốc. Những câu thơ về một dân tộc anh hùng của một thời đại anh hùng:
"...Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng
Tất cả trả lời sinh bên một dòng sông!"
Các nền văn minh của nhân loại đều khởi nguồn từ những dòng sông. Những người anh hùng được sinh ra bên các dòng sông và Phú Yên có một dòng sông Ba.

Tuy Hoà, tháng 4/2005- Trí Thanh


* Theo “ Non nước Phú Yên” của Nguyễn Đình Tư-NXB Thanh Niên 2004

bút ký


MUỐI ƠI!...


Lại một năm nữa dân làm muối ở Tuyết Diêm-huyện Sông Cầu phải gặp cảnh lao đao. Cái nghề đầy khổ nhọc để chắt chiu tinh túy của trời đất đem vị mặn cho đời mà thường phải nhận lấy sự bạc bẽo của nó. Làng muối lại có thêm nhiều người bỏ nghề. Ông Nguyễn Kim Phụng - diêm dân của Tuyết Diêm mặt buồn rười rượi nói: " Giá muối liên tục rớt từ 350 đồng xuống 300 đồng, rồi còn 200 đồng một ký. Lỗ nặng!".
Hai tiếng "Lỗ nặng" của ông
Phụng nghe nặng trịch như một dấu chấm hết. Nó khái quát kết cục của những vụ muối thất bát và giá muối không ra gì. Nó như cũng dự báo một quyết định nào đó của ông đối với nghề. Liệu một người sinh ra trên đồng
muối, hơn 50 năm gắn bó với muối như ông có tính bỏ nghề?
Muối Tuyết Diêm từ xưa nổi tiếng là tốt về chất lượng. Hạt muối trắng và chắc, không thua kém muối của các nơi khác như Sa Huỳnh, Hòn Khoí hay muối Mũi Né nên được người tiêu dùng trong khu vực ưa chuộng. Nhưng do sản xuất theo lối thủ công năng suất thấp, giá thành cao hơn những chỗ khác mà muối khó bán. Sản lượng toàn vùng chỉ khoảng 12 ngàn tấn mỗi năm mà dù bán đổ bán tháo cũng còn tồn từ 6 -7 ngàn tấn. Bởi vậy mà diêm dân cứ hớt hải lo tìm nguồn tiêu thụ, ngay ngáy lo đến hạn trả nợ ngân hàng và cuống cuồng lo chạy cái ăn hàng ngày. Những thông tin về dự án nâng cấp, cải tạo đồng muối giai đoạn 2002 - 2010 của UBND tỉnh Phú Yên, dự án xây dựng nhà máy muối Iốt đã được duyệt, dự án về nhà máy tiêu thụ muối sạch 15 ngàn tấn/ năm mà Công ty muối 3 của Đà Nẵng sẽ đầu tư....không ai buồn quan tâm. Họ có lý. Tương lai tốt đẹp cho nghề muối Tuyết Diêm có lẽ còn hơi xa mà họ thì phải lo cho những khó khăn của thực tại.

Những năm gần đây nhiều vùng muối ở nước ta đã dần thay đổi phương pháp làm muối truyền thống, biết áp dụng khoa học kỹ thuật nên có những bước tiến đáng kể về quy mô cũng như năng suất và chất lượng. Nhiều nơi muối được sản xuất theo hướng công nghiệp, sản lượng cao mà chi phí thấp nên dù giá hạ vẫn không sợ bị lỗ. Sản phẩm làm ra không chỉ là mấy món muối tươi, muối hầm mà còn được chế biến thành nhiều sản phẩm đa dạng như muối ớt, bột canh, muối Iốt... hấp dẫn và tiện lợi cho người tiêu dùng. Đời sống càng phát triển thì người tiêu dùng cũng trở nên khó tính - khó tính cả với .... muối! Hạt muối ăn không chỉ là mặn, mà còn phải có hương vị và đẹp về bao bì, mẫu mã. Muối không bị lẫn lộn cát, vỏ sò và tạp chất. Vì vậy đòi hỏi nghề muối phải đầu tư công nghệ để gia công cho sản phẩm mới đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng. Vùng muối Tuyết Diêm khó khăn về vốn, làm ăn nhỏ lẻ và không nắm bắt kịp với thị hiếu người tiêu dùng nên phải chấp nhận "tụt hậu" và thua lỗ.

Xưa nay người ta cứ tưởng rằng nghề làm muối là dễ có ăn. Chỉ phơi nước đại dương là có tiền. Dân làm muối thì không nghĩ như thế. Khi bước vào mỗi vụ người làm muối phải đắp lại bờ vùng, bờ thửa, làm kênh dẫn nước. Riêng công đoạn làm mặt bằng cho đồng muối phải mất ròng rã từ 12 đến 15 ngày gọi là "làm da". Sau khi cày lên và phân lô, diêm dân mỗi ngày phải dùng đầm đập hai lượt cho đến khi mặt sân thật phẳng, thật cứng như bê - tông. Hạt muối có trắng, có sạch, không bị lẫn lộn đất cát là ở khâu "làm da" này. Đây cũng là khâu nặng nhất trong cả quy trình làm muối. Vì vậy đến bây giờ ở Tuyết Diêm vẫn còn lưu truyền câu ca: "Năm đồng một lát cá thu. Lấy chồng xứ Nại chổng khu đập bờ". Xứ Nại là tên gọi xưa của vùng muối Tuyết Diêm. Ngay cái tên gọi cũng gợi lên sự lam lũ và nỗi niềm của nghề làm muối. Con gái muốn trắng da, dài tóc đừng về làm dâu xứ Nại. Để rồi phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Để rồi đỏ tóc đen da, chân trần nứt nẻ. Ấy là nói ngày xưa chứ bây giờ không đến nỗi."Bảo hiểm" cho người thợ trên đồng muối đã được trang bị từ đâù đến chân. Chỉ có cái khổ nhọc là vẫn thế!

Quá trình giọt nước "hóa thân" thành muối cũng phải trải qua nhiều giai đoạn theo sự đạo diễn của con người. Trước tiên phải dẫn nước vào một hồ chứa gọi là hồ "chưá lạt", sau đó đưa vào hồ chứa thứ hai gọi là hồ "chứa châm cào". Chưa xong, từ hồ "chứa châm cào" dòng nước còn phải qua hồ chứa chịu " một", hồ chứa chịu "hai" mới được đưa vào ruộng để phơi thành muối. Quy trình này mất khoảng năm ngày. Mỗi công đoạn đòi hỏi người làm muối phải cẩn thận theo dõi thời tiết, độ mặn các hồ. Nếu sơ suất một khâu nào thì mẻ muối trong năm ngày đó coi như "xôi hỏng bỏng không". Muối không đủ độ chín sẽ không chắc hạt và dễ bị chảy nước. Một vụ muối bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng chín âm lịch. Đây là thời gian nhiều nắng và gió. Người làm muối phải lao động cật lực trong suốt mùa nắng, gió ấy. Mỗi hạt muối vì vậy nó chứa đựng bao nhiêu là mồ hôi, công sức, bao sự cực nhọc, tảo tần của người thợ trên đồng. Thế nhưng có một cái quy luật thật nghiệt ngã với dân làm muối. Đó là năm nào thời tiết tốt, muối được mùa thì giá lại rẻ như ... muối! Khi mất mùa giá mới cao. Giá cao mà không có muối để bán. Vậy thì cũng bằng không. Xưa nay mấy ai làm muối mà giàu! Ông Sáu Thơm hiện là người làm muối cao tuổi nhất ở Tuyết Diêm. Nhà ông làm muối đã ba đời. Từ thuở Tuyết Diêm còn là vùng rừng ngập mặn đầy cây đước, cây bần. Ở tuổi 80 ông vẫn còn chắc nịch và bền bỉ, có thể cùng con cháu cầm trang cào "tung hoành" suốt cả ngày trên đồng muối. Ông đã một đời gắn bó với muối, nếm trải đủ vị mặn của muối lẫn cái mặn của mồ hôi, đến giờ cũng chưa hết trăn trở vì muối. Ông cất cái giọng trầm đục và mặn như ... muối: "Cái mà tôi buồn nhất là con cháu bây giờ cứ rần rần đòi bỏ nghề muối. Nhiều đứa đã đi Sài Gòn làm mướn rồi!". Nỗi lòng của một diêm dân già! Liệu điều đó có đủ thuyết phục lớp trẻ khi chúng đã chán cái nghề "phơi nước" đầy khổ nhọc và luôn bị thôi thúc tìm cơ hội để vượt qua sự nghèo khó?

Ông Sáu bỏ về từ lâu mà tôi vẫn còn ngẩn ngơ giữa mênh mông đồng muối. Buổi trưa nóng hầm hập và trắng đến nhức mắt. Tôi bị hơi mặn của muối ép đầy buồng phổi, làm môi miệng chát đắng. Hóa ra cái chất khoáng rất cần cho sự sống mà ta vẫn nếm hằng ngày lại không dễ chịu chút nào khi nó trở nên quá dư thừa. Bất giác tôi nhớ câu chuyện của người thương binh già ở làng muối kể về những ngày hoạt động trên rừng nhiều lúc phải ăn tro tranh thay muối. Đôi khi hạt muối còn nhuộm cả máu của cán bộ tiếp tế từ đồng bằng lên bị địch phục kích. Mỗi hạt muối quý hơn cả vàng. Ấy vậy mà bây giờ ...
tháng 6/2003-Trí Thanh
* Ảnh trên: Diêm dân Tuyết Diêm trên đồng muối. ( Kim Long)


bút ký


CÓ MỘT CAO NGUYÊN VÂN HÒA...

Ở độ cao hơn 500 mét so với mặt biển, cao nguyên Vân Hòa như có mang một chút khí hậu của vùng ôn đới. Cái nắng hanh hao và hừng hực mùi gió bấc từ hướng đồng bằng lên đã bị chặn lại tại cái nút thắt An Thọ của Tuy An, làm cho mùa hè ở Vân Hòa như đến chậm hơn. Suốt dọc đường đi, dù cố tìm lại hình ảnh quen thuộc của Vân Hòa hơn mười năm trước nhưng khó ai có thể nhận ra. Mấy cây đa hơn trăm tuổi phía trên truông Bà Diên là nơi nghỉ chân của những người đi chợ phiên leng keng nhạc ngựa nay không còn nữa. Trong ký ức của tôi là một Vân Hòa của những con đường gập ghềnh vó ngựa, những căn nhà lá đìu hiu bám trên triền núi, hay mấy xóm nhỏ mà từ xa trông phảng phất đường nét cô thôn trong những tứ thơ cũ. Không gian giàu chất thơ làm hổn hển trái tim thi sĩ :" Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây"
(thơ Hàn Mặc Tử)
Bây giờ tất cả đã đổi thay, đã hiện diện một cuộc sống mới. Không còn những căn nhà lá nằm hiu hắt như mụn vá trên nền xanh của cao nguyên. Trên các trục lộ, từng dãy nhà kiên cố mọc lên. Dân Vân Hòa đã bắt đầu bám đường, bám vào cái mạch máu giao thông để thuận lợi cho sản xuất, lưu thông, tạo bộ mặt mới cho vùng đất này. Đứng trên con đường mới mở rộng đến hai làn xe chạy tôi bỗng nhớ hình ảnh những người dân vùng cao đi sau từng đoàn ngựa thồ. Ì ạch mang đường, bắp, trái cây vượt hàng chục cây số để đến chợ phiên. Để rồi cuối buổi chợ lại ì ạch thồ hàng thiết yếu về nhà. Bóng người, bóng ngựa cứ thất thểu trong sự cần mẫn và cam chịu... Những hình ảnh đó giờ đây còn chăng chỉ là trong nỗi nhớ của kẻ xa quê lâu ngày về thăm cố hương. Để rồi bất chợt à lên: " Quê mình thay đổi nhiều quá!".
Theo lời những người cao tuổi ở đây thì ông cha họ đã định cư tại vùng ba xã ít ra cũng hơn bốn trăm năm. Đâu vào thế kỷ mười bảy, khi mà Phù Nghiã hầu Lương Văn Chánh đem quân đánh dẹp phương Nam và chiêu tập lưu dân lên khai khẩn vùng đất mới theo chiếu của chúa Nguyễn: "Trên từ nguồn di, dưới từ cửa bể". Những lưu dân này nguyên là binh sĩ của chúa Trịnh trong số ba vạn tù binh bị bắt năm Mậu Tý-1648 . Họ là những người gốc Thanh-Nghệ..nên từ đó hình thành nên các làng mạc với tên gọi phỏng theo quê cũ như phường Hòa Linh, phường Vân Khương, Tân Lập Vân Hòa thôn rồi Vân Hòa trong tổng Sơn Xuân gồm ba xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân mà ngày nay thường gọi là vùng Vân Hòa. Như vậy những cư dân Việt đầu tiên có mặt ở vùng đất trấn biên của một thời này đã lâu. Trải qua bao thăng trầm, đổi thay của thế cuộc để rồi thành quê hương. Để rồi cắm rễ trên đất này đời đời kiếp kiếp. Lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của những chiến công để giữ đất và mở đất. Con người gắn với đất và làm nên cái hồn của đất.
Bí thư xã Sơn Định Nguyễn Văn Bồng không giấu niềm tự hào: " Dân ba xã của chúng tôi là dân cách mạng. Không chỉ trong chiến tranh mà cả trong công cuộc xây dựng nhân dân cũng đoàn kết một lòng! Chúng tôi sẽ cùng nổ lực để rút ngắn khoảng cách với đồng bằng!". Vùng Vân Hòa hiện có trên 11.300 hec - ta đất sản xuất, trong đó có 9.000 héc ta đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng tái sinh sau nương rẫy. Đến 80% là đất đỏ bazan. Vì vậy có thể trồng cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi. Hiện nay ngoài cây mía địa phương đang triển khai dự án trồng cao su. Qua trồng thử nghiệm cho thấy cây cao su phát triển rất tốt, các chuyên gia đánh giá cao chất lượng mủ.
Qua nhiều thập kỷ thử nghiệm, thử nghiệm rồi thử nghiệm bao nhiêu loại cây mà không mang lại hiệu quả nên nhân dân rất ngại khi nghe triển khai một loại cây trồng mới, thế mà với cây cao su thì người dân tin lắm. Đối với họ đây có thể là cơ hội để thoát nghèo. Để những người nông dân hàng ngàn đời gắn với cái cày, con bò có thể đổi thay, trở thành những công nhân nông nghiệp trong thời đại công nghiệp. Hiện có đến vài trăm hộ xin trồng cây cao su.
Anh Đinh Văn Hoàng, chủ tịch xã Sơn Long là một người nhanh nhẹn và từng trải. Cái chất quân sự của con nhà lính trong anh thể hiện rõ trong cách nói và việc làm. Anh dành gần hai giờ đồng hồ để nói với chúng tôi về kế hoạch phát triển của xã, về những dự tính tương lai để cao nguyên Vân Hòa trở thành "con rồng " phía tây của tỉnh. Đã có dịp đến nhiều tỉnh Tây Nguyên, tìm hiểu con đường phát triển của họ tôi nhận thấy xuất phát điểm của họ cũng có những nét tương đồng như Vân Hòa. Nhưng họ đã mạnh dạn bước ra khỏi nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu để chuyển hướng sang cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Việc xác định chuyển hướng của Vân Hòa là chậm nhưng dẫu sao cũng chưa phải là muộn. Theo anh Hoàng, vùng Vân Hòa đã có hai bước đột phá trong phát triển. Đó là năm 1979 ở đây được xây dựng nông trường cà phê, nhờ đó giúp cho dân ba xã biết được cái giá trị đất đỏ bazan và bỏ tập quán độc canh cây lúa, nhưng thực sự đánh thức vùng đất này là các chương trình đầu tư của nhà nước. Đối với một vùng đất còn nhiều gian khó như Vân Hòa nếu không có sự đầu tư của nhà nước thì việc xóa đói còn khó nói gì đến giảm nghèo, đến phát triển! Các chương trình 327, chương trình trung tâm cụm xã, chương trình 135.... bằng tiền tỷ đã truyền cho Vân Hòa một sức sống mới. Trong một lần làm việc gần đây với chủ tịch huyện Sơn Hòa Trương Phước Cường, anh cho biết: " Mới năm 1998 GDP của ba xã chỉ chiếm chưa được 8% trong tổng GDP của huyện, đến 2002 đã lên được 11%. Dự ước đến 2005 GDP của ba xã sẽ chiếm tỷ trọng 20% trong cả huyện". Cái bước vọt 9% trong khoảng thời gian chưa đầy hai năm nữa nói thì đơn giản nhưng để thực hiện được là cần bao nhiêu vấn đề. Nhưng tôi tin là Vân Hòa sẽ làm được nếu phát huy có hiệu quả các nguồn lực điạ phương với sự quan tâm đầu tư của nhà nước. Nếu các chương trình đầu tư đúng hướng và có kế hoạch. Đồng tiền rót thẳng tới đất mà không bị "khúc xạ", không bị " rơi rớt" dọc đường.
Trong chuyến đi Vân Hòa lần này tôi có một quyết tâm là phải đến cho được thôn Hòa Ngãi của bà con đồng bào dân tộc Chăm. Đây là thôn mà lâu nay được xem là tiêu biểu ở huyện Sơn Hòa về thực hiện định canh định cư, về tinh thần đoàn kết xây dựng quê hương. Quả thật nếu không có nóc nhà rông văn hóa tôi không nhận ra đây là thôn của bà con đồng bào dân tộc thiểu số. Trong thôn được quy hoạch khá hiện đại. Có đến 80% là nhà ngói và cần ăng-ten cao vút để bắt sóng truyền hình. Bằng cái giọng đều đều như hát Khan, già làng Ma Gộp kể về những gian nan của cái thời sống du canh du cư (có lẽ ông đã kể hàng trăm lần về chuyện này). Cái kiểu sống mà "Lửa bén tới đâu ăn tới đó" nhưng cũng chỉ được một hai mùa lại phải dắt díu nhau đi. Cuộc sống du canh du cư cứ như lớp đất rừng bị bợt bạt sau mỗi mùa mưa lũ. Đến quá nửa đời người ông và bà con mới cắm làng cố định tại vùng đất này và tạo dựng cuộc sống như ngày hôm nay. Gương mặt Ma Gộp vẫn chưa phai hết nét khắc khổ nhưng cái bụng đã yên. Tôi nhìn thấy đôi mắt ông sáng rực lên một niềm tin.
Buổi trưa trên cao nguyên thật dễ chịu. Cái nắng đầu hè vàng như mật chảy suốt lên màu xanh trù phú của cây trái, của những ruộng mía đến kỳ thu hoạch. Đất và nắng cao nguyên làm cho cái màu xanh thêm óng ả. Đẹp như một tấm thảm lụa mà hơn một ngàn hộ dân vùng ba xã đã cần mẫn, chắt chiu dệt suốt trong 28 năm qua mà từng mũi chỉ, đường kim thấm đẫm tình đất tình người. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi như nghe vọng lại tiếng vó ngựa xa xưa của Phù Nghĩa hầu trên đường đi mở đất. Đất không ngủ, đất đang cựa mình trong cuộc sinh hạ cho cái màu xanh thảo mộc vĩnh hằng. Và từ trong cái màu xanh bạt ngàn, từng dòng nhựa li ti vẫn chảy trong mỗi thân cây....

tháng6/2003-Trí Thanh

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2008

thời sự-suy nghĩ

CÂU CHUYỆN ĐẦU NĂM

Tết Nguyên Đán đi qua đã nhiều ngày nhưng không khí vui xuân vẫn còn tiếp diễn. Hết 3 ngày tết là tiếp đến các lễ hội như hội đua thuyền sông nước, đua ngựa các nơi rồi các chương trình ca nhạc, văn hoá thể thao…Đây cũng là nét độc đáo của một địa phương có nhiều hoạt động văn hoá truyền thống phong phú và đa dạng. Việc tổ chức nhiều hoạt đông văn hoá thể thao trong dịp đầu xuân là điều tốt. Là cơ hội để người dân có điều kiện vui chơi sau một năm lao động vất vả và chuẩn bị bước vào một năm lao động mới, ngoài ra cũng là điều kiện để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá dân gian của từng địa phương.
Dân ta có thói quen chơi tết kéo dài, có nơi không khí vui xuân đón tết kéo dài đến tận cuối tháng Giêng. Thói quen này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất….Nhưng điều đáng chê trách nhất là không khí này còn được nhiều cán bộ công chức mang đến cả nhiều cơ quan đơn vị nhà nước. Đã gần đến ngày mồng 10 tết nhưng hoạt động ở nhiều cơ quan đơn vị trong tỉnh vẫn chưa đi vào nền nếp. Mới chiều hôm qua chị láng giềng của tôi sang nhà chơi đã than thở: khổ quá, sáng nay đến liên hệ công việc ở một cơ quan kia nhưng người nọ thì nói rằng đó là trách nhiệm của người kia. Tìm người kia thì thường trực cơ quan bảo rằng họ đi cơ sở nắm tình hình, đi công tác địa bàn cuối buổi mới về. Đúng là những công chức mẫn cán, tích cực trong công tác, mới đầu năm đã chịu khó đi cơ sở nắm tình hình. Chị chờ đến cuối buổi rồi những người cần gặp cũng gặp được. Nhưng khi nghe họ nói chuyện với nhau mới biết rằng họ không phải đi công cán mà đi xem hội đua thuyền rồi ghé về “trút hũ” nhà một người quen! Chị chắc lưỡi: làm cán bộ sướng thật, đến mồng 9 còn bỏ công sở để đi chơi tết. Chỉ có dân đen chúng tôi là khổ, muốn liên hệ làm việc gì thì phải chờ chực!
Chuyện bức xúc này không chỉ xảy ra ở một hai nơi như chị kia vừa kể mà là tình trạng chung của nhiều cơ quan đơn vị vào thời điểm sau tết cổ truyền. Hãy rảo một vòng đến các cơ quan đơn vị mà xem. Nhiều nơi cán bộ công chức vẫn còn tụm năm tụm bảy kể chuyện chơi tết hoặc kéo nhau đi “trút hũ” nhà người này người kia. Tệ hại hơn, sau khi đến cơ quan họ rủ nhau tìm một phòng nào đó tổ chức đánh bài ăn tiền….Tuy không đến mức sát phạt như cờ bạc nhưng đây là điều thật đáng trách.
Việc các cơ quan đơn vị do ảnh hưởng không khí tết làm chểnh mảng đến công việc như câu chuyện tôi vừa nêu ở trên chỉ là chuyện nhỏ trong vô số những chuyện mà hiện nay ta vẫn gặp và nghe người dân bức xúc, phàn nàn hàng ngày ở các cơ quan hành chính khi những người được gọi là “đầy tớ” của dân tự do đánh cắp giờ nhà nước để làm việc riêng, và khi dân cần đến thì họ thực hiện nhiệm vụ như một sự ban ơn. Mới đây trong chỉ thị 05 vừa ban hành, Thủ tướng chính phủ đã yêu cầu các cơ quan nhà nước phải quản lý và sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc của cơ quan. Cán bộ công chức không được sử dụng thời giờ làm việc vào việc riêng, không đi muộn về sớm, không chơi game trong giờ làm việc, không uống rượu bia trước, trong giờ làm việc…thế nhưng trên thực tế quy định này chưa được các cơ quan đơn vị thực hiện triệt để. Tình trạng cán bộ viên chức chơi game giải trí trong giờ làm việc, la cà quán xá, đi muộn về sớm…vẫn còn tồn tại trong một số cơ quan đơn vị nhà nước. Chẳng những làm ảnh hưởng đến thời gian, hiệu quả công việc mà còn phá vỡ kỷ cương, quy chế của cơ quan nhà nước, làm mất lòng tin ở nhân dân. Đây cũng là vấn đề cần chấn chỉnh trong chương trình cải cách hành chính-một chính sách lớn mà được Nhà nước và tỉnh ta triển khai thực hiện trong nhiều năm qua.
Nói về vấn đề cải cách hành chính, thời gian qua tỉnh ta cũng đã tạo được được một số chuyển biến, từ việc tổ chức liên thông một cửa cho đến việc rút gọn thời gian, giảm bợt thủ tục trong hành chính trong giải quyết công việc. Từ đó đã góp phần làm giảm bớt nguy cơ nhũng nhiễu ở các cơ quan hành chính công và hiệu quả lớn nhất mang lại là kết thúc năm 2007 vừa qua, Phú Yên là tỉnh đứng đầu khu vực miền Trung-Tây Nguyên và thứ 2 trong cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI-vấn đề này được đánh giá là chúng ta đã thực hiện được một bước tiến mới trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đến hợp tác làm ăn để thu hút đầu tư. Tuy nhiên đó là việc lớn, còn trong mối quan hệ hàng ngày giữa cán bộ công chức ở các cơ quan hành chính công với người dân vẫn chưa được cải thiện. Thủ tục hành chính còn nhiều, những cán bộ công chức-đầy tớ của dân vẫn chưa quen với việc nở nụ cười khi tiếp đón công dân đến liên hệ công việc. Người dân vẫn còn ngại và khổ sở mỗi khi có vấn đề gì cần đến các cơ quan hành chính giải quyết.
Đất nước đã thay đổi rồi. Chúng ta đã bước vào hội nhập, đã ra biển lớn để sánh vai với các nước trên thế giới rồi nhưng cách nghĩ, cách làm của một số người phục vụ nhân dân vẫn còn hạn hẹp và giữ thói quen cũ sẽ không còn phù hợp và là trở lực không nhỏ trong tiến trình hội nhập.
Hiện nay Đảng và nhà nước ta đang phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đây là một cuộc vận động lớn trong toàn Đảng, toàn dân. Mong rằng từ cuộc vận động này, mỗi cán bộ, viên chức trong các cơ quan nhà nước cần phải ý thức được trách nhiệm của mình trong công việc là góp phần vào công cuộc cải cách hành chính của đất nước. Những tư duy và cách làm việc kiểu cũ cần phải thay đổi từ bây giờ. Phải, ngay từ bây giờ.
Trí Thanh

thời sự-suy nghĩ

LẠI CHUYỆN TĂNG GIÁ


Lẽ thường xưa nay, bất cứ một vấn đề gì xảy ra dù to lớn hay nghiêm trọng đến đâu thì dư luận cũng chỉ xôn xao trong một thời gian, sau đó thì mọi chuyện sẽ dần lắng xuống. Điều này cũng không có gì là khó hiểu cả. Bởi vì cuộc sống là một dòng chảy liên tục, con người ta bị cuốn trong cái dòng chảy ấy thì sẽ phải biết tạm quên cái này để tiếp nhận những cái mới khác.
Thế nhưng có một vấn đề mà gần hai năm nay liên tục được mọi người quan tâm-đó là sự leo thang của giá cả. Không quan tâm sao được khi mà sự biến động theo một chiều của giá cả cứ liên tục tiếp diễn hết tháng này qua tháng khác và năm này qua năm khác. Không phải chỉ là giá cả của một vài loại hàng hoá mà tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ trong xã hội đều leo thang với tốc độ chóng mặt. Từ giá vàng, đô la, giá thép, giá xăng cho đến lương thực thực phẩm, giá dịch vụ.... Sự tăng giá đến thời điểm này không còn là vấn đề của những nhà quản lý kinh tế hay các nhà doanh nghiệp mà là tất cả mọi người trong xã hội, không còn ai có thể đứng ngoài sự chi phối của nó.
Tôi là một viên chức nhỏ của nhà nước, lâu nay vẫn thường ỷ y và không quan tâm mấy đến vấn đề giá cả. Mặc kệ, tuy số tiền lương hàng tháng không bao nhiêu nhưng sống tằn tiện cũng tạm được, quan tâm giá cả mà làm gì? Thế nhưng hiện giờ cũng không thể làm ngơ với vấn đề này, khi mà tất cả mọi thứ gì có thể mua bán, trao đổi-kể cả công lao động đều tăng. Mà không quan tâm sao được khi chúng ta đang sống với biết bao nhu cầu thiết yếu, từ cây kim sợi chỉ cho đến việc ăn uống hàng ngày….đều phải mua. Nghĩa là đều phải tham gia vào sự lưu thông của thị trường. Nghĩa là đều bị cuốn trong vòng quay của cơn bão giá!
Buổi sáng vừa thức dậy đã nghe các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về giá xăng dầu thế giới tăng, giá thép tăng, các ngân hàng trong nước đua nhau nâng lãi suất huy động vốn, ngành thống kê dự báo chỉ số giá tiêu dùng sẽ tăng trong tháng tới, ngành điện đang dự kiến điều chỉnh giá điện theo hướng tăng lên…toàn những cái vĩ mô nghe mà nhứt cả đầu. Bước ra cửa gặp bà bán xôi quen, thay cho cái cười mời mọc mọi khi là một thông báo về giá nếp, giá than củi và cuối cùng là…giá gói xôi tăng gấp 2 lần, mới nghe thôi chứ chưa kịp ăn mà đã thấy tức bụng. Vào cơ quan rồi đi cơ sở, đến chỗ nào cũng nghe người ta nói đến chuyện tăng giá. Từ giá heo con giống cho đến phân bón, thuốc trừ sâu đều tăng gấp 2-3 lần so với năm trước.
Bữa cơm gia đình buổi trưa càng đạm bạc hơn trước cơn bão giá. Chưa kịp vào mâm đã nghe vợ ca cẩm nào là giá gạo, giá thực phẩm mắm muối đều tăng. Rau xanh là thứ rẻ nhất, dễ mua nhất, nhưng trước đây người ta bán mớ còn nay thì tính bằng cọng, bằng lạng…Trước kia một lần đi chợ chỉ khoảng 30 ngàn đồng là ăn cả ngày, nay phải đến 60-70 ngàn đồng. “Lương công chức mỗi tháng chỉ hơn triệu bạc như mình thì từ nay đừng mơ đến thịt gà, gần cả 100 ngàn đồng một ký”- nghe vợ chua chát như vậy mà nao cả lòng.
Buổi chiều ghé đón con ở trường, tiện đường rẽ vào công viên cho trẻ vui chơi, khi thanh toán tiền tưởng theo giá cũ thì cô chủ dịch vụ trố mắt: “Xưa rồi chú ơi, mọi thứ đã lên giá lâu rồi!”… Ừ nhỉ! Đúng là mình “xưa” thật, giá ngày công lao động trong nông nghiệp cũng đã tăng từ lâu rồi!
Với những gia đình viên chức như tôi thì việc giá cả leo thang như lâu nay tuy làm cho cuộc sống eo hẹp hơn nhưng vẫn còn có thể phòng vệ được theo kiểu “yếm khí” là tiết kiệm tối đa các khoản chi tiêu, nhưng nhiều bộ phận xã hội khác thì không dễ chút nào. Đối tượng khó khăn nhất hiện nay có lẽ là nông dân và nông thôn- bộ phận thụ động nhất trước tất cả những sự biến động. Họ vừa phải đối mặt với những trận thiên tai bão lụt triền miên trong năm qua, lại vừa phải vất vả chống đỡ trong cơn bão giá. Hạt thóc làm ra vốn nhỏ …“ như hạt thóc” mà chi phí đầu tư đã hơn tám chín phần.
Sự tăng giá tạo ra nhiều vấn đề bất ổn cho xã hội. Các nhà quản lý kinh tế của đất nước vẫn đang nỗ lực thực hiện các chính sách bình ổn giá nhưng xem ra vẫn chưa có có chiều hướng sáng sủa.
Trong khi đang ngồi suy ngẫm vấn đề này thì lại nghe truyền hình vừa đưa tin giá dầu thế giới lại thêm một đợt tăng mới nữa. Biết làm sao được, chuyện tăng giá thì cứ để những nhà quản lý kinh tế họ lo, còn mình thì cứ chấp nhận theo kiểu sống chung với bão giá như “sống chung với lũ”vậy!
Trí Thanh

phóng sự

NGỌC LÃNG NHỮNG MÙA HOA TẾT


Năm nào cũng vậy, bắt đầu từ khoảng 20 tháng Chạp âm lịch, hai bên đường đoạn từ cầu Sông Chùa đến phường Phú Lâm của Thành phố Tuy Hoà ngập hoa và chỉ có một loại duy nhất là layơn. Hoa chất thành đống, dựng từng bãi làm cho đoạn đường này giống như một con đường hoa. Đó là hoa của Ngọc Lãng-xã Bình Ngọc đang chờ những chuyến xe đường dài của các tỉnh đến “ăn hàng”. “Con đường hoa” này kéo dài cho đến tận đêm giao thừa.
Ông Nguyễn Thanh Hà-53 tuổi cho biết: “Ban đầu ở đây chỉ trồng các giống hoa nội địa như thượt dượt, cúc, hoa hồng…dần dần về sau thì chuyển sang trồng chuyên hoa layơn để bán tết và đã trở thành “thương hiệu” bởi ngày nay hầu như trong Nam, ngoài Bắc cũng đều biết tiếng layơn Ngọc Lãng mình!”. Ngọc Lãng là vùng đất sa bồi gần cửa sông và cây layơn đã ăn chịu được ở đây, hình thành một làng hoa nổi tiếng ở cửa ngõ phía Nam thành phố Tuy Hoà. Cây hoa lay ơn đã làm cho bà con ở đây no cơm ấm áo, nhiều người nên cửa nên nhà, con cái học hành thành đạt. Và nhất là hoa đã tạo thêm thu nhập trong thời điểm “cá tháng Giêng, tiền tháng Chạp”. Hoa layơn Ngọc Lãng ngày nay không chỉ cung cấp nội địa mà còn vươn xa ra thị trường bên ngoài, làm đẹp mùa xuân cho cả nước.
Trước kia Ngọc Lãng chỉ trồng layơn hồng. Dần dần theo yêu cầu của thị trường, layơn hồng được thay thế bằng các loại layơn cao cấp, giống nhập ngoại như đỏ mập, nhung đen, tím cẩm, son sắc, vàng…Những giống này cành to, bông cao, màu sắc đẹp được thị trường ưa chuộng nhưng trồng cũng rất khó. Ngay từ khoảng tháng 6, tháng 7 âm lịch, dân trồng hoa Ngọc Lãng đã phải lên tận Đà Lạt tìm mua giống. Theo các nhà vườn, chất lượng hoa phụ thuộc rất lớn vào chất lượng củ giống. Củ giống phải to, mập, đủ già thì cây mới phát triển lớn, cành to, màu hoa mới mịn và lâu tàn. Nếu trồng phải củ giống non, bị sâu thì cây phát triển èo uột như đứa trẻ bị suy dinh dưỡng. Mang củ giống về phải lựa chọn lại rồi đem sắp trên sạp mỏng và xông khói để có độ ấm kích thích củ ra rễ, cứ sau độ 10 ngày phải trở một lần cho độ ấm lan toả đều đến từng củ hoa. Qua 23 tháng 10 âm lịch thì đem trồng-đây là thời gian vừa để xuống giống hoa layơn tết nhưng cũng là thời điểm không còn ngập lụt. Việc xông khói củ hoa cũng yêu cầu rất cẩn thận vì nếu già lửa thì củ sẽ bị nướng chín. Ngược lại nếu xông không đủ độ ấm thì hoa mọc mầm chậm và cây phát triển yếu. Đối với người trồng hoa ở Ngọc Lãng thì củ giống layơn rất quan trọng. Hàng năm bà con vẫn phải đi mua giống chứ không tự để giống được. Bởi vì khác với layơn hồng truyền thống, các giống layơn cao cấp này muốn để giống thì sau khi cắt hoa phải chừa lại 2 lá gốc cùng với củ rồi tiếp tục để đứng chân tại luống 1 tháng sau mới nhổ đem về bảo quản-một tháng đứng chân tại luống là để củ hoa tiếp tục tích luỹ dưỡng chất và đủ “già” để đảm bảo chất lượng mọc mầm về sau. Ngọc Lãng đất chật nên khi thu hoạch hoa bán tết là nhổ luôn cả củ đi để lấy đất làm việc khác. Vì vậy hàng năm làng hoa layơn Ngọc Lãng phải tốn trên 2 tỷ đồng tiền mua giống.
Ngoài giống thì thời tiết cũng là yếu tố quyết định. Layơn vốn hợp với khí hậu ôn đới nên khi di thực về đây hay đỏng đảnh như cô gái xứ lạnh về làm dâu vùng đất nóng, dễ thay đổi tính nết khi trái gió trở trời. Người trồng layơn sợ nhất là gặp mưa và gió nhiều, củ sẽ bị thối, cây bị lay lỏng gốc chậm phát triển làm cho người trồng hoa luôn trong tâm trạng phập phồng. Ông Huỳnh Văn Sự, 46 tuổi-người trồng layơn lâu năm ở đây nói: “Sợ nhất là những năm thời tiết bất thường như năm nay-đợt áp thấp nhiệt đới vừa rồi cũng đã làm cho layơn bị ảnh hưởng rất nặng, hoa phát triển chậm và cầm lại, bông cũng không tốt, như vậy thì lỗ to và khỏi ăn tết”.
Mỗi năm có một vụ hoa tết. Với người trồng hoa Ngọc Lãng thì ngoài tạo thu nhập cuối năm đây còn là dịp để thể hiện kỹ thuật, tay nghề của mình với dân trồng hoa các nơi. Vì vậy bao công sức, kỹ năng, kể cả hy vọng đều dồn cho hoa. Những ngày cận tết thì cái vui, cái buồn của các nhà vườn đều phụ thuộc vào việc hoa có kịp tết hay không và giá cả thị trường ra sao. Bà Nguyễn Thị Cảnh-50 tuổi có vườn layơn rộng 2 sào với trên 10 triệu đồng tiền củ giống, đó là chưa kể chi phí vật tư trong thời tăng giá. Dù đang giai đoạn chuẩn bị thu hoạch nhưng bà vẫn nâng niu, chăm chút từng gốc hoa. Bà tâm sự: “Trồng hoa là rất hy vọng nhưng gặp năm hoa của mình trễ, nhìn người ta bán hoa mà mình muốn khóc luôn. Nhưng sống bằng nghề nào nó cũng có cái quen, cái mê của nghề đó nên dù có thất bại năm nay thì năm sau mình vẫn tiếp tục đi mua giống về trồng để bán tết”.
Layơn là loài hoa đẹp, có dáng thanh thoát, kiêu sa. Ban đầu chỉ là cành thẳng như lưỡi kiếm bỗng nở ra những bông hoa hình loa với màu sắc mịn màng và kín đáo chứ không rực rỡ phô trương như nhiều loài hoa khác. Hoa layơn không biết có xuất xứ từ đâu nhưng chắc không phải ở Việt Nam bởi từ thời trung cổ ở phương Tây đã có một truyền thuyết cảm động về loại hoa này. Truyền thuyết kể rằng: hoàng đế La Mã là Barbagalo ra lệnh tử hình tất cả các tù nhân xứ Pheranki, chỉ để lại hai chàng trai khoẻ mạnh, có thân hình đẹp nhất cho dẫn độ về La Mã chuẩn bị đưa vào đấu trường. Một buổi tối đẹp trời, tình cờ hai chàng trai này gặp hai người con gái rất đẹp lại là con của hoàng đế La Mã. Hai người con trai với 2 người con gái gặp tiếng sét ái tình ngay từ cái nhìn đầu tiên. Vị hoàng đế La Mã biết vậy bèn nói với 2 con gái rằng đây là 2 tù nhân, bắt họ sẽ đấu kiếm với nhau, người nào thắng sẽ được tự do và người kia phải chết. Nghe vậy cả 2 nàng đều hết sức lo lắng. Rồi cuộc giao chiến giữa hai chàng trai nô lệ cũng xảy ra. Tuy nhiên trong khoảnh khắc khi lưỡi kiếm của người này chuẩn bị đâm chết người kia thì tình yêu quê hương trong họ bừng dậy và hai đấu thủ cùng cắm kiếm xuống đất, lao vào ôm nhau. Hoàng đế La Mã ra lệnh giết cả hai người. Giữa lúc ấy một chuyện lạ xảy ra, hai thanh kiếm cắm xuống đất cứ kêu leng keng và tại đó bỗng mọc lên những bông hoa lạ có hình như lưỡi kiếm. Đó là loài hoa layơn ngày nay…
Với nhiều người trồng hoa ở Ngọc Lãng có thể họ không biết câu chuyện cảm động về hoa layơn, nhưng chắc chắn ai cũng biết rằng họ đang trồng một loài hoa đẹp để tô điểm cho mùa xuân.

Trí Thanh